Công cụ làm việc cá nhân
Trang chủ | Liên hệ | Fonts | Sitemap | Tìm kiếm
Thứ ba, 02/12/2008 5:36

Ai như dáng mẹ, dáng chị...

Letzlingen một ngày đầu mùa Hạ. Trời xanh quang đãng, gió nhẹ mơn man, cái lạnh lẽo của mùa Đông đã đi qua nhưng dư âm của nó vẫn lẩn quất đâu đây cùng với nắng ấm đầu Hè, mang đến một cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu.

 

Khu chợ phiên vào thứ năm hàng tuần thường bắt đầu từ sáng sớm. Trên một sân tròn khá lớn được lát gạch sạch sẽ, các chủ hàng người Đức và người Việt đã rôm rả vừa trò chuyện vừa căng lều và dọn hàng. Chợ tuy nhỏ nhưng cũng đủ các mặt hàng thực phẩm, rau quả tươi và hàng tiêu dùng như trong các siêu thị. Không giống như các đồng nghiệp bản xứ, các chủ hàng người Việt thường phải đi rất sớm để dựng quầy và bày biện hàng hóa. Việc dọn hàng ra hay xếp hàng vào đều chiếm khá nhiều thời gian. Khu chợ này thường xuyên có 2 gia đình bán các mặt hàng tiêu dùng, quần áo. Các anh chị đều là những người đi hợp tác lao động trước đây và hiện đang định cư cùng mấy chục hộ khác ở Gardelegen cách đó vài chục cây số. Ngoài ra còn có một gia đình từ xa đến và một thanh niên người Đức cũng theo gương người Việt bán những hàng thêu ren, khăn bàn.

 

Đa phần các khu chợ phiên hàng tuần ở các làng, xã của miền đông nước Đức đều được chính quyền địa phương bố trí ngay sát cạnh ngân hàng và các siêu thị nhỏ. Khu chợ từ lâu đã tồn tại trong sự chờ đợi của người dân về sự mới mẻ mà nó đem đến nhất là vào những ngày lễ, Tết hay đầu tháng khi mà các tài khoản cá nhân có những món tiền kha khá. Đây cũng là nơi họ gặp nhau trò chuyện, tâm tình. Mua bán hay đi xem hàng mà chẳng mua gì cũng là một trong những sở thich của các bà các cô.

 

Giờ đây tuy họ phải thu vén chi tiêu nhưng tấm lòng hiếu hỷ thì không thể tiết kiệm được. Chính vì thế mặc dù trong các của hàng hay siêu thị có đầy đủ các mặt hàng cần thiết nhưng người dân ở các khu chợ vùng xa này vẫn đợi chợ phiên hàng tuần và họ thường là khách hàng chung thủy của các quầy hàng Việt Nam. Có lẽ lòng mến khách, sự phục vụ tận tình và cũng dễ dàng hơn trong việc mua bán đổi hàng cùng với giá cả phải chăng đã giúp những người Việt Nam vẫn có vị trí nhất định trong thị trường bán lẻ của nền kinh tế đang có nhiều thay đổi này.

 

Đang đứng trước cửa ngân hàng, vừa hút thuốc lá vừa nhìn ra khu chợ,  tôi bỗng nghe thấy một lời chào bằng tiếng Anh và hỏi xin châm lửa. Quay lại phía sau, một chàng trai cao lớn, rắn rỏi trong bộ quân phục rằn ri, có khuôn mặt rất đàn ông đang nhìn tôi cười hiền hậu. Chàng thanh niên này có lẽ không phải người Đức vì phát âm tiếng Anh khá chuẩn. Nhìn  thân hình to béo, trán lại hói của tôi có lẽ anh nghĩ tôi là người Hàn Quốc hay Nhật Bản nên mới chào như vậy. Sau khi châm lửa, chúng tôi cùng nói chuyện về thời tiết và công việc. Anh và đồng đội là người Hà Lan, vừa sang đây làm việc tại trung tâm thử nghiệm vũ khí mới của CHLB Đức theo thỏa thuận chung giữa các nước EU trong khoảng 2 tuần lễ. Lúc đó đám bạn anh từ trong ngân hàng cũng ồn ào kéo ra. Lính xa nhà, lại vừa có tiền nên nhìn ai cũng phấn chấn. Những chàng trai này đều còn rất trẻ và cũng còn hồn nhiên như con trai tôi khi họ kháo nhau sẽ  nhau mua cái này, cái kia.

 

Lúc này đã quá trưa, đa phần các chủ hàng đã dọn lều và thu gom hàng chuẩn bị ra về. Nhìn những người phụ nữ quê mình đang cặm cụi, nhẫn nại cùng chồng dọn dẹp, xếp hàng hóa vào bao, vào thùng, tôi bỗng chạnh lòng nhớ đến bà ngoại tôi. Bà đã về nơi chín suối cách đây hơn 30 năm, nhưng tôi không bao giờ quên được gian hàng nhỏ bé của bà trong một khu chợ thị xã ven biển miền nam Trung bộ. Những người phụ nữ hôm nay ở đây, dù là đang sống trong một đất nước văn minh, hiện đại mà sao dáng hình của họ cũng vẫn giống như bà tôi, một người phụ nữ giản dị, khiêm nhường, hơi lam lũ, suốt đời thu vén cho chồng cho con. Tôi thầm cảm phục sự hy sinh và chịu đựng của những con người mảnh mai mà nhẫn nại này. Họ hầu như suốt ngày phải làm việc ngoài trời bất kể mưa hay nắng, khi về nhà công việc nội trợ cũng không rời tay. Hôm nay đẹp trời vậy mà họ còn vất vả thế thì không biết những hôm mưa giông, bão tuyết họ sẽ ra sao. Dù đã hàng chục năm qua, nhưng tôi vẫn không thể nào quen được với những ngày đông, tháng giá nơi xứ sở của băng tuyết này.

 

Đang miên man với những suy nghĩ của mình, tôi bỗng nghe thấy các chàng lính trẻ đố nhau đoán xem những người phụ nữ đang dọn hàng ngoài kia là người nước nào. Thật bất ngờ khi một giọng nói có vẻ khẳng định cất lên. “Chăm chỉ như thế chỉ có thể là người Việt Nam thôi!”. Họ kéo nhau ra chợ để chứng minh câu nói của bạn mình và cùng nhau mua sắm. Với sự kinh ngạc và thích thú tôi cũng đi theo họ. Nơi họ vào là một quầy hàng tổng hợp của một đôi vợ chồng đã lớn tuổi. Không giống như các quầy khác, gia đình này vẫn chưa dọn hàng. Chợ lúc này đã vãn khách, người đàn ông đang đọc báo trên xe, người phụ nữ chăm chú xem một cuốn sách dạy tiếng Đức ngoài lều. Hàng của họ có đủ thứ từ cái kim, sợi chỉ, những tấm thiệp vui, thiệp buồn, bật lửa, đèn pin, đến giầy dép quần áo,… những thứ cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày. Khi thấy đám lính trẻ kéo nhau vào, người chồng từ trên xe bước xuống và chào mời. Nhưng các vị khách hàng trẻ tuổi này chưa vội mua hàng mà đang muốn tìm lời giải đáp của mình. Khi câu trả lời đúng như dự đoán, tất cả cùng ồ lên vui vẻ. Tuy nói tiếng Đức không chuẩn, nhưng các chàng trai tranh nhau giới thiệu anh bạn cao lớn nhất của họ cũng có vợ Việt Nam. Không khí giữa người mua và người bán bỗng sôi nổi hẳn lên. Tôi thấy anh bạn mới quen bỗng đỏ mặt và không thể nói bằng tiếng Đức được nữa. Chuyển sang tiếng Anh, anh nói lưu loát và đầy vẻ tự hào khi kể về người vợ yêu dấu và gia đình của mình. Người phụ nữ lắng nghe rất chăm chú, đôi khi xen vào mấy câu hỏi. Chị dường như hiểu được câu chuyện về người đồng hương nhưng lại dùng tiếng Đức để hỏi. Anh bạn đồng hao của tôi, cứ tạm gọi chàng rể Việt Nam như thế, thì hiểu câu hỏi nhưng lại trả lời bằng tiếng Anh. Còn tôi đã tự cho mình có may mắn khi hiểu được hết những người đồng hương, đồng hao của mình nói gì cho dù họ khác nhau về quốc tịch hay ngôn ngữ.

 

Qua những lời đối thoại Anh-Đức của họ, tôi biết rằng chàng sỹ quan người Hà Lan này đã tìm được ý trung nhân của mình qua một chuyến du lịch đến Vũng Tàu mùa Hè năm 2002. Anh tình cờ gặp cô tại quầy hàng bán đồ lưu niệm của người chú họ. Theo lời anh mô tả thì cô không đẹp nhưng có dáng người mảnh mai, mái tóc dài, đặc biệt là đôi mắt rất sáng và một nụ cười đôn hậu. Cô là công nhân kỹ thuật của một liên doanh da giầy, túi xách xuất khẩu, nhân đợt nghỉ phép ra giúp chú bán hàng. Cô đi lại nhẹ nhàng và giới thiệu tỉ mỉ cho khách những món hàng xinh xắn, giá cả vừa phải. Tà áo dài màu hồng nhạt của cô lúc nào cũng như một điểm sáng trong quầy hàng. Chỉ có 1 tuần ở Việt Nam, nhưng từ khi gặp cô hầu như ngày nào anh cũng đến đấy, có khi cũng chẳng mua gì mà chỉ để nghe cô nói, thấy cô cười hay chỉ hỏi vu vơ như là một sự tò mò khám phá mà thôi. Cũng giống như các khách hàng khác, bao giờ anh cũng nhận được lời chào dễ mến và nụ cười tạm biệt của cô. Anh về nước trong nỗi luyến tiếc vì không hề biết gì về người con gái ấy. Công việc của một sỹ quan kỹ thuật thử nghiệm vũ khí trong quân đội đã cuốn anh khắp châu Âu, châu Phi, được gặp gỡ biết bao nhiêu người và được biết đến bao nền văn hóa khác nhau.

 

Một năm trôi qua, lại đến kỳ nghỉ phép vào mùa hè. Bạn bè rủ anh cùng đến đảo Bali xinh đẹp của Indonexia, anh đồng ý ngay. Chương trình đã lên, vé máy bay đã đặt và họ thường bàn tán về xứ sở xa lạ nơi họ sắp đến. Anh đã bay đến Bali, đã tận mắt nhìn thấy hòn đảo của thiên đường du lịch với trời xanh, biển xanh trong vắt, với những điệu nhạc dân gian lạ lẫm và thấy cả những cô gái có làn da nâu mịn màng, sặc sỡ trong trang phục dân tộc, cuồng nhiệt trong các điệu nhẩy mời chào. Nhưng không hiểu tại sao anh lại nhớ đến người con gái Việt Nam mà anh đã gặp ở Vũng Tàu. Ở cô ấy có cái gì đó rất lạ, nụ cười như có ma lực cuốn hút anh làm anh không sao quên được. Mân mê tấm thiệp của cửa hàng, anh nghĩ mình có thể gọi điện thoại về Việt Nam để hỏi thăm cô ấy qua người chú. Đấy là một  sỹ quan “quân đội Hồ Chí Minh” – anh đã nói đúng như thế, đã về hưu, nói thạo tiếng Anh và rất đôn hậu, dễ mến. Đang phân vân lại bị đám bạn bè lôi vào những cuộc vui bất tận ở nơi này, anh lại không thực hiện được dự định đó. Nhưng chỉ 3 ngày sau, anh đột ngột xin đoàn cho đổi chương trình để sang Việt Nam cho dù phải trả thêm chi phí. Anh cảm thấy lúc đó nếu không được gặp lại cô, không được nhìn thấy nụ cười ấm áp, hiền hậu kia thì đời anh chẳng có ý nghĩa gì. Anh nhất định phải quay lại Việt Nam một lần nữa cho dù sự thật sẽ không giống như anh mong đợi.

 

Đến Vũng Tàu khi trời chưa tối hẳn, sau khi đến khách sạn làm thủ tục nhận phòng, anh thuê xe ôm ra thẳng cửa hàng bán đồ lưu niệm ấy. Gió ngoài khơi xa vẫn đổ về đất liền từng cơn mát lạnh, sóng vẫn vỗ về bờ cát dài với những lời ru êm ả. Cuộc sống ở đây thật thanh bình làm sao. Một năm qua Vũng Tàu đã có nhiều thay đổi. Đường mở rộng thênh thang, đèn điện sáng trưng, người và xe đi lại tấp nập. Có mấy khách sạn mới xây đang ở giai đoạn hoàn thiện trông rất bề thế. Khi thấy gian hàng nhỏ bé vẫn sáng đèn, khách ra vào vẫn tấp nập anh bỗng thở phào nhẹ nhõm. Thong thả bước vào quầy, anh nhận thấy nơi đây đã có thêm nhiều mặt hàng mới được làm bằng tay rất tinh xảo từ các sản vật của biển, của rừng. Người chú đã không thể nhớ ra anh giữa muôn vàn khách vãng lai qua đây mỗi ngày nhưng ông cũng vui vẻ cho anh số điện thoại của cô. Anh cũng không dám hỏi gì về cô khi không muốn mình phải nhận lấy sự thật phũ phàng quá sớm.

 

Anh đã vui mừng đến nghẹt thở khi biết cô ấy vẫn chưa lấy chồng, cô ấy đã đồng ý kết bạn với anh, đi chơi với anh trong những ngày anh ở Vũng Tàu, cô ấy,… và cô ấy... Với tất cả sự trìu mến anh luôn nói về người vợ yêu dấu của mình như thế với chúng tôi. Một năm sau đám cưới được tổ chức ở cả hai phương trời. Và giờ đây cô ấy đang ở Hà Lan với mẹ chồng và một chú nhóc 2 tuổi rất kháu khỉnh – giống mẹ như đúc. Anh rất vui về điều đó. Cô được mẹ chồng thương yêu vì tính dịu dàng và cái nết chịu khó. Anh còn nói rằng cô đã hát ru con ngủ bằng những ca từ xa lạ nhưng có giai điệu rất hay mà anh chưa bao giờ được biết đến. Trong thời gian nuôi con nhỏ cô đã tự học tiếng Hà Lan và đang nộp đơn thi vào trường sư phạm. Mỗi cuối tuần, khi anh từ đơn vị trở về cả gia đình lại vui vẻ như đang sống trong ngày hội.

 

Anh rất yêu thương vợ và luôn tự hào về cô. Anh đã nói với chúng tôi rằng anh rất biết ơn Việt Nam – đất nước đã mang đến cho anh một người vợ tuyệt vời! Tôi bỗng cảm thấy trong tôi có một niềm vui, niềm tự hào khôn tả. Tôi muốn la thật to cho chàng trai ấy biết rằng mình là người Việt Nam, người con gái ấy là người đồng hương của chúng tôi, đất nước tôi có biết bao người phụ nữ giống như cô ấy, bà tôi cũng vậy, má tôi cũng vậy,… Nước mắt tôi bỗng trào ra, tôi cứ đứng lặng đi như thế một hồi lâu mà không còn nghe thấy người phụ nữ và anh chàng đồng hao ấy nói với nhau những gì. Tôi chỉ thấy các chàng trai rời khỏi quầy hàng với những nụ cười thích thú và trên tay là những chiếc bật lửa ngộ nghĩnh, những chiếc đèn pin xinh xắn. Còn anh bạn đồng hao của chúng ta thì cứ vừa đi vừa lưu luyến giơ tay vẫy mãi, chào mãi những người đồng hương của vợ mình.

 

Qua trang viết này tôi muốn gửi đến người phụ nữ không biết mặt, biết tên ấy lời cám ơn vô hạn. Không cần những lời lẽ hoa mỹ, khoa trương chị giống như một bông sen đang nở thắm, đã rất tự nhiên tỏa hương sắc Việt Nam và lung linh giữa trời Âu xa vời vợi. Cũng xin cám ơn những lời nói đẹp như có cánh của chàng rể người Hà Lan khi nhắc đến 2 tiếng Việt Nam. Một tình yêu không biên giới đẹp như một câu chuyện cổ tích mà vẫn đầy chất nhân văn mang hơi thở của thời đại.

 

Xin mượn những lời hát rất hay của nhạc sỹ Hoàng Vân cách đây hơn 30 năm để kết thúc bài viết này.

 

 “Hỡi ai, có đi năm châu bốn biển.

 Hỏi rằng có gì đẹp trong cô gái Việt Nam.

 Đẹp lắm chứ, …”

 

Vâng trong mắt tôi những người phụ nữ Việt Nam rất đẹp và rất đáng tự hào.

 

Ngọc Hà Nguyễn – Magdeburg

Tạo bởi admin
Cập nhật 16-03-2006
Tạp chí Quê Hương trên Internet
Kênh thông tin của Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
Tổng biên tập Hoàng Bình
Toà soạn: Số 7B Ngõ Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Tel: (84-4) 9.33.39.23, 9.33.39.24
Fax: (84-4) 8.25.92.11 - E-mail: info@quehuong.org.vn - quehuong@hn.vnn.vn
Giấy phép 399/GP-BVHTT ngày 26/12/2000 của Bộ Văn hoá - Thông Tin