Công cụ làm việc cá nhân
Trang chủ | Liên hệ | Fonts | Sitemap | Tìm kiếm
Thứ bẩy, 22/11/2008 4:16

Chiến tranh: Nhìn từ một phía


Một bài viết mới đây nói về “Chiến Tranh Việt Nam” mang nhiều tính chất lừa dối với cách nói một chiều, có ý tưởng sai lầm của Tiêu Dao Bảo Cự được Talawas chọn đăng và bảo đấy là: “Tư tưởng, chiến tranh nhìn từ nhiều phía”!  Đọc bài này chẳng khác gì bài “Nhuệ Hồng nói với Nhất Hạnh” trên Phù Sa với những luận điệu méo mó, chụp mũ và xuyên tạc đầy ác ý. Tôi xin được mạn phép nói thẳng với mục đích xây dựng; hy vọng tiếng nói của tôi, dù không thay đổi được tư tưởng sai lệch của Tiêu Diêu Bảo Cự, nhưng ít ra cũng làm cho người đọc biết được ý định của Tiêu Dao Bảo Cự muốn “tháo gỡ” nhằm mục đích bào chữa cho việc “Tại sao Mỹ mang quân sang Việt Nam?” và ”Tại sao tội ác do Mỹ gây ra ở Việt Nam như rải chất độc Da Cam”? cũng như “Xuyên tạc lòng yêu nước của hai liệt sĩ Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc”!

Mở đầu, Tiêu Dao Bảo Cự viết: “Thời gian gần đây có hai sự việc được nhà cầm quyền phát động và tuyên truyền rầm rộ cả trong và ngoài nước là vụ kiện chất độc da cam và việc công bố nhật ký thời chiến tranh của hai liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thùy Trâm ....”.

Đoạn kế viết:  “Vì sao có tội ác?”

 Theo luật lệ nào đó, người ta đang đi kiện các công ty hóa chất Mỹ đã sản xuất ra chất độc màu da cam để đòi bồi thường. Nhưng bình tâm xét kỹ, các công ty này không trực tiếp gây ra tội ác. Dĩ nhiên khi tội ác xảy ra thì các công ty này nằm trong dây chuyền tạo ra tội ác. Nếu cho rằng các tập đoàn tư bản đứng đằng sau các chính quyền Mỹ mới thực sự chi phối chính sách của chính quyền thì họ chính là nguồn cội của tội ác, tuy nhiên vẫn không phải là trực tiếp.

Rõ ràng trực tiếp gây ra tội ác là quân đội Mỹ, trực tiếp hơn nữa là các phi công đã lái máy bay đi rải chất độc này. Quân đội Mỹ không tự ý hành động mà thực hiện chính sách của chính quyền Mỹ. Tại sao chính quyền Mỹ lâm chiến ở Việt Nam sau khi hiệp định Genève được ký kết, chia đôi đất nước? Nếu không có cuộc chiến  tranh giải phóng của miền Bắc, được chuẩn bị ngay từ năm 1954 sau khi cấy cán bộ ở lại và sau đó từng bước đưa vũ khí và quân đội vào miền Nam và cuộc chiến lan rộng thì Mỹ có trực tiếp đưa quân vào miền Nam không? Miền Nam có cần được giải phóng không? ....”.

Đọc những điều viết trên đây, người đọc nhận thấy Tiêu Dao Bảo Cự không có  kiến thức, dốt sử, nói theo quan điểm cá nhân một chiều của mình. Tiêu Dao Bảo Cự không được đọc Hiệp Định Genève, không biết có gì ở trong đó nên đã nói càn. Theo quan điểm và lập trường của Tiêu Dao Bảo Cự thì cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam là vô ích, vô lý và vô nghĩa. Nhân dân Việt Nam không cần phải kháng chiến, không cần phải hy sinh để giành độc lập và thống nhất đất nước, chỉ cần khoanh tay ngồi đấy mà chờ Pháp, chờ Mỹ sẽ hai tay dâng nước Việt cho người Việt Nam.

Bây giờ xin mời các bạn hãy đọc bài viết sau đây của Jeff Drake, một người Mỹ có lương tâm: “Tại sao Mỹ can thiệp vào Việt Nam?” (How the U.S. Got Involved in Vietnam).

The U.S fear that South Vietnam fell to Communism, then others would also fall, like a row of Dominoes. So if South Vietnam fell the countries that may of fell were Malay or Burma. Although of little economic importance it was another country under the influence of communism. Kennedy was also keen to stamp out communism and increased the military involvement, he sent in advisors who woud train the South Vietnamese Army.America’s military involvement was great. The troop level peaked in 1968 at a massive 500,000. The Vietnamese army was increased to 170.000 soldiers all equiped and paid for by the United States of America. The US spent nearly $270 million in military support for Diem to fight the North Vietnamese communits. The United States of America would send in fully armed troops, helicopters, cargo planes, fighters jets, tanks, buggies and bikes. Everything that they could possibly use in the fight against Communism.

 Xin tạm dịch: Hoa-Kỳ sợ miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản, sau đó các nước khác sẽ sụp đổ theo. Như là một hàng quân trong bàn cờ Domino. Như vậy, nếu Việt Nam sụp đổ sẽ kéo theo sự sụp đổ của các nước khác như Mã-Lai, Miến-Điện. Mặc dù vấn đề kinh tế không quan trọng là mấy đối với các nước khác chịu ảnh hưởng của Cộng Sản. Kennedy quyết liệt muốn đè bẹp Cộng sản và gia tăng can thiệp quân sự, ông ta gởi cố vấn sang huấn luyện cho quân đội miền Nam Việt Nam. Lực lượng quân sự Mỹ đã can dự nhiều vào Việt Nam. Năm 1968 quân số của Mỹ đã gia tăng lên mức cực điểm 500.000 binh sĩ. Quân đội miền Nam cũng đồng thời gia tăng lên 170.000 binh sĩ, lương tiền và tất cả trang bị đều do Hoa-Kỳ cung cấp. Hoa-Kỳ đã chi gần 270.000 Mỹ kim nuôi dưỡng Diệm để chống lại quân đội Cộng Sản miền Bắc. Hoa-Kỳ cũng đã gởi qua miền Nam Việt Nam quân đội với trang bị đầy đủ máy bay lên thẳng, máy bay vận chuyển, máy bay chiến đấu, xe tăng, xe bọc sắt, áo giáp. Tất cả mọi cái có thể được dùng để chống lại Cộng Sản ....

Trong hiệp định Genève được ký kết, căn cứ theo Điều 14, Phân đoạn 7 trình bày về tổng tuyển cử và thống nhất: “Hội nghị tuyên bố, trong tương lai Việt Nam cần dàn xếp vấn đề chính trị, vì nó sẽ có ảnh hưởng đến nền tảng độc lập, thống nhất lãnh thổ để cho phép nhân dân Việt Nam được sống tự do, hưởng hạnh phúc và được toàn quyền sử dụng lá phiếu của mình trong thể chế dân chủ, bầu cử tự do. Để bảo đảm cũng như tiến hành tổng tuyển cử thống nhất và phục hồi hòa bình trên toàn cõi Việt Nam, một cuộc phổ thông đầu phiếu thống nhất sẽ được tiến hành vào tháng 7 năm 1956 dưới quyền giám sát của Ủy hội Kiểm soát Đình chiến Quốc tế”.

Với lời lẽ xuyên tạc sự thật, Tiêu Dao Bảo Cự đã ba hoa viết về hai liệt sĩ Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc như sau : “Khi  họ tự hào về con người xã hội chủ nghĩa, về giác ngộ giai cấp, căm thù đế quốc Mỹ xâm lược, hăng hái đi vào chiến trường để giải phóng miền Nam ... có lẽ  họ không hề tự hỏi “Vì sao có cuộc chiến”? Đi xa hơn, khi nói về Fred và Rob, “hai người Mỹ đã giữ gìn nhật ký của Đặng Thùy Trâm suốt 30 năm trời, đã dằn vặt đau xót, phản tỉnh khi tham gia cuộc chiến và đã làm mọi việc hết sức mình để trả nhật ký về cố chủ.... Nhưng chúng ta chắc cũng tự hỏi và muốn hỏi hai người Mỹ đã nhận thức được hết vấn đề chưa, vấn đề cốt lõi, “Vì sao có cuộc chiến? Vì sao tội ác?”. Chúng ta đây là ai? Hay chỉ là một vài phần tử bất mãn với chế độ, chống chính quyền rồi chống luôn cả Dân Tộc nên đã cố tìm cách bào chữa cho Mỹ, cho tội ác một cách trơ trẽn, vụng về. Cho nên điều mà Tiêu Dao Bảo Cự cố nhấn mạnh và lặp lại nhiều lần: “Vì sao có chiến tranh Việt Nam”. “Vì sao có tội ác” là những điều vô lý, khó thuyết phục. Điều đặc biệt, đối với Tiêu Dao Bảo Cự thì cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam là vô ích, vô lý và vô nghĩa. Nhân dân Việt Nam không cần phải kháng chiến, không cần phải hy sinh để giành độc lập và thống nhất đất nước, chỉ cần khoanh tay ngồi đấy mà chờ Pháp, chờ Mỹ sẽ hai tay dâng nước Việt cho người Việt Nam.

Kết luận cho thấy, phê bình hay đăng tải ý kiến riêng là quyền của mọi người. Tuy nhiên, khi viết hay đăng lên báo những gì liên quan đến lịch sử, thiết tưởng chúng ta nên cẩn trọng, chớ nên viết càn. Vì lịch sử không có tính chất riêng tư, phe nhóm. Viết về lịch sử không thể viết bừa bãi, nhất là không nên dùng thủ đoạn để xuyên tạc bất cứ cá nhân hay đoàn thể nào mà phải nhìn vào sự thật những gì đã xẩy ra. Tiêu Dao Bảo Cự đã không có tình tự Dân Tộc, đã có tư tưởng sai lầm khi nhìn chiến tranh Việt Nam từ một phía, khác hẳn với lập trường của nhân dân yêu chuộng tự do và hòa bình trên thế giới, và nhất là khác hẳn với nhân dân Việt Nam về quan điểm: “Chỉ có một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và tự chủ”.

Nhìn chung, những điều do Tiêu Dao Bảo Cự viết không có một giá trị trí thức nào cả.   

California, thượng tuần tháng 9 năm 2005
Hoài-Việt

Tạo bởi admin
Cập nhật 21-09-2005
Tạp chí Quê Hương trên Internet
Kênh thông tin của Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
Tổng biên tập Hoàng Bình
Toà soạn: Số 7B Ngõ Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Tel: (84-4) 9.33.39.23, 9.33.39.24
Fax: (84-4) 8.25.92.11 - E-mail: info@quehuong.org.vn - quehuong@hn.vnn.vn
Giấy phép 399/GP-BVHTT ngày 26/12/2000 của Bộ Văn hoá - Thông Tin